Hình thức và Hiệu lệnh tập họp

794

I- MỞ ĐẦU:

Sự tập họp cần phải nhanh chóng, trật tự và có hình thức đẹp. Huynh trưởng điều khiển phải báo cho đoàn sinh biết hiệu lệnh bằng còi, miệng, tay, chuông, đèn, v.v.. Muốn cho sự tập họp được nhanh chóng và trật tự thì các hiệu lệnh phải được trình bày cho đoàn sinh biết trước và phải trình bày cho rõ ràng.

II- HÌNH THỨC TẬP HỌP:

Hình thức tập họp gồm có các thế cá nhân và các thế xếp hàng.

A/ Các Thế Cá Nhân:

  1. Thế nghiêm: Đứng thẳng, hai tay thẳng theo mình, gót chân chạm vào nhau, hai bàn chân mở ra thành một góc vừa 60 độ.
  2. Thế nghỉ: Chân phải đứng nguyên chỗ, bỏ chân trái ra khoảng 30 cm, hai tay để sau lưng, ở trong hàng không nói chuyện (Thiếu nữ đứng tự nhiên, hai tay vòng phía trước).
  3. Thế nghỉ tự do: Như thế nghỉ thường nhưng có thể nói chuyện nho nhỏ.
  4. Thế nghỉ có gậy: Đứng thế nghỉ, tay phải nắm gậy đưa thẳng ra theo vai.
  5. Thế chào: Đứng thẳng như thế nghiêm, tay phải bắt ấn Cát Tường.
  6. Thế chào có gậy: Đứng thế nghiêm, tay trái đưa ngang bụng nắm lấy gậy, tay phải bắt ấn Cát Tường.

B/ Các Thế Xếp Hàng:

Để tạo sự trang nghiêm, tôn kính trong các cuộc lễ, cũng như để dễ dàng trong việc báo cáo sĩ số, chúng ta có thể dùng hình thức tập họp hàng dọc, hàng ngang hay hàng rẽ quạt.

Để thuận tiện trong việc truyền đạt tin tức của người điều khiển đến người nghe (trong trường hợp ít người) ta dùng hình thức tập họp chữ U, hình bán nguyệt (hình vòng cung).

Để tạo sự thân mật, thuận tiện trong trường hợp sinh hoạt vui chơi đông người ta có thể dùng hình thức tập họp vòng tròn, hình vuông.

Các cách xếp hàng:    xem hình vẽ.

III- HIỆU LỆNH TẬP HỌP:

Hiệu lệnh thường gồm 2 phần:

Dư lệnh:  là lệnh ra trước để Đoàn sinh chú ý chuẩn bị.

Động lệnh: là lệng để Đoàn sinh thi hành ngay một động tác.

Hiệu lệnh cần phải dễ phân biệt và được giải thích rõ ràng cho mọi người trước khi đem dùng.

Sau đây là các hiệu lệnh thường được dùng. Tuy nhiên khi xét thấy cần, người điều khiển có thể đặt thêm các hiệu lệnh khác.

A/ Còi Lệnh:

Hiệu còi dùng để cho đoàn sinh chú ý chạy đến trước khi dùng thủ lệnh hay khẩu lệnh trong các buổi họp Đoàn, các cuộc cắm trại, các Trại Huấn Luyện, …Người điều khiển thổi những tiếng còi dài (tè) hay ngắn (tích). Ví dụ:       Chú ý:_, nhanh lên:.. .. .., chậm lại:_ _ _ _, tập họp chung: _ .. .. .., cấp cứu:… _ _ _ …

B/ Khẩu Lệnh: (Lệnh bằng miệng) gồm có 2 phần:

  1. Dự lệnh: Nói trước cho đoàn sinh biết những gì sẽ phải làm. Dự lệnh phải chậm rãi, rõ ràng, dễ hiểu. Ví dụ:  Người điều khiển nói: “Khi anh hô PHẬT TỬ các em trả lời TINH TẤN và đứng thế nghiêm”.
  2. Động lệnh:Nói ra để đoàn sinh thi hành ngay. Động lệnh phải mạnh mẽ, rõ ràng. Ví dụ: Sau khi đã ra dự lệnh như trên, người điều khiển hô to “PHẬT TỬ”, khi đó đoàn sinh sẽ hô to “TINH TẤN” và đứng thế nghiêm.

C/ Thủ Lệnh: (lệnh ra bằng tay):

Lệnh ra bằng tay chỉ dùng khi đoàn sinh đứng gần (có thể trông thấy người điều khiển).

Tập họp một hàng dọc: Người điều khiển đưa tay phải thẳng ra phía trước, bàn tay cao quá đầu một chút, nắm lại và ngón trỏ đưa lên trời (hình 1).

Tập họp 2, 3, 4,… hàng dọc: Người điều khiển đưa tay phải thẳng ra phía trước, bàn tay cao quá đầu một chút và đưa 2, 3, hay 4 ngón tay tùy theo hàng (hình 2). Khi đưa tay ra cả 5 ngón tay thì tất cả các đội , chúng đều tập họp theo hàng dọc.

Tập họp một hàng ngang: Người điều khiển đưa tay phải ra thẳng ngang vai, bàn tay nắm lại (hình 3).

Tập họp hình rẻ quạt: Người điều khiển đưa hai tay về phía bên thành hình chữ V góc độ 60 độ, bàn tay nắm lại (hình 4).

Tập họp hình chữ U: Người điều khiển đua tay phải ngang vai, thành góc thước thợ, bàn tay nắm lại (hình 5).

Tập họp hình vuông (hay chữ nhật): Người điều khiển đưa hai tay ngang vai, thành góc thước thợ, bàn tay nắm lại (hình 6).

Tập họp hình bán nguyệt: Người điều khiển đưa cánh tay lên đầu, bàn tay nắm lại (hình 7).

Tập họp hình vòng tròn: Người điều khiển vòng hai tay trước ngực. Khi vòng tròn đã tròn thì bỏ tay xuống cho đoàn sinh đứng lại (hình 8).

D/ Hiệu Lệnh Bằng Chuông, Mõ, Đèn:

Trong trường hợp thích nghi ta có thể dùng chuông, mõ hay đèn để ra hiệu lệnh. Cách thức sử dụng sẽ do người điều khiển ấn định sao cho rõ ràng, dễ phân biệt.

E/ Cờ Hiệu:

Dùng để treo trước phòng, trước lều, hay trên gậy để biết phòng hay lều của đội, chúng, để biết rõ đội, chúng đó phụ trách công việc gì.

Một số biểu tượng như:

Cứu thương: Cờ nền trắng có chữ thập đỏ.

Trật tự: Nền đỏ có chữ T trắng.

Trực: Nền hồng giữa có cái còi màu trắng trên một hình tròn nâu.

Vệ sinh: Nền xanh có cái chổi và cái cào màu trắng.

Nhà bếp: Nền trắng có cái bếp đen và ngọn lửa đỏ.

Tường thuật: Nền vàng có bút lông gà trắng cắm trong bình mực đen.

Nghi lễ: Nền vàng có chữ vạn đỏ.

IV- KẾT LUẬN:

Trong sinh hoạt GĐPT, hình thức và hiệu lệnh tập họp là một hoạt động thông thường và phổ biến, mang tính chất nghi thức. Chỉ cần đứng quan sát trong lúc một đơn vị đang tập họp, người ta có thể đánh giá tinh thần cũng như sự hoạt động của đơn vị đó mạnh hay yếu.